CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ – LÊ QUANG THÔNG


Sinh nhật lần thứ 64 và vài suy nghĩ Con người và Vũ trụ

Tìm hiểu văn minh nhân lọai có chữ viết lưu truyền khỏang hơn 5.000 năm – nay thì có mạng internet – ta thấy quá nhiều tác giả,tác phẩm,triết gia,triết học,tôn giáo… giải thích sự vận hành vũ trụ, ngây ngô như Thuyết Địa tâm nhưng vẫn ngự trị hàng chục thế kỷ.Đến khi Copernic với Thuyết Nhật tâm đã đánh đổ “đêm dài Trung cổ” và các nhà thiên văn lỗi lạc như Kepler,Galilee,Bruno…và đến Newton tưởng chừng như vũ trụ và con người  đã được giải quyết êm xuôi với lực hấp dẫn giữa các thiên thể và “cú búng” của Chúa làm vũ trụ vận hành hòan hảo trong không thời gian riêng biệt và bất biến.

Thuyết tương đối của Einstein và Cơ học lượng tử ra đời khỏang 100 năm nay đã đảo lộn tất cả, Không Thời gian là một, không có không gian rỗng chứa các thiên thể vận hành vĩnh cữu và thời gian bất biến, điều này đã được chứng minh bằng thực nghiệm một cách thuyết phục là lực hấp dẫn đã bẻ cong ánh sáng và thời gian biến đổi khi di chuyển vận tốc cao đo đựơc qua các đồng hồ nguyên tử, sau đó các thành tựu khoa học phát triển như vũ bão của các ngành truyền thanh,truyền hình,vi tính,Smartphone…nhờ cơ học lượng tử và ngày nay không ai có thể phủ nhận những lý thuyết đó.

Song song với sự tiến bộ khoa học,Tôn giáo và Khoa học thần bí thu hẹp dần. Chúa,Thượng đế,Thần linh…không còn hình tượng nữa mà trở thành Quy luật vật lý.Quy luật vận hành,Hằng số vũ trụ,Ý chí tuyệt đối,Quyền lực siêu nhiên v.v nhưng sự tranh cãi Duy tâm và Duy vật vẫn tiếp diễn: Ý thức và Vật chất cái nào có trước cái nào quyết định vẫn chưa ngã ngũ…

Hiện nay Thuyết vũ trụ phát sinh tự vụ nổ Big Bang kết hợp vật chất từ thấp đến siêu cao và con người xuất hiện theo Thuyết Tiến hóa của Darwin đã trải qua hơn 14 tỉ năm đã được đa số các nhà khoa học công nhận do đã chứng minh của Khảo cổ học và sự tồn tại của Tàn dư bức xạ sau vụ nổ Big Bang,vũ trụ đang nở rộng nhờ sự chứng minh của viễn vọng kính Hubble và phổ Doppler, không gian cong do trường hấp dẫn của các thiên thể và lỗ đen.lỗ trắng v.v…

Nhưng đến đây vẫn có hai phái: Con người xuất hiện ngẫu nhiên do sự kết hợp tình cờ của vật chất và phái thứ hai do ý chí Thượng đế hay Chúa đã tạo lực vô hình thúc đẩy từ vụ nổ ban đầu xếp đặt những hạt nhỏ nhất cấu thành nguyên tử và tạo ra vũ trụ theo thuyết Tiến hóa để con người xuất hiện có mục đich (tất nhiên) theo Nguyên lý vị Nhân!

Dù xuất hiện ngẫu nhiên hay tất nhiên, con người chỉ tồn tại như một sinh linh yếu ớt hiện diện chớp mắt trong môt Vũ trụ vô cùng lớn, hết lớp người này đến người khác hiện diện trên trái đất nhỏ bé mà thời gian xem như vô tận.Hay Vũ trụ chỉ là “ảo ảnh”, nó hiện hữu chẳng qua là do nhận thức chủ quan của con người, khi con người chết đi vũ trụ tự biến mất.Ý thức là hình chiếu của vũ trụ lên não bộ.

Cách giải thích nào cũng có cái lý của nó và Phật giáo có cái nhìn con người và vũ trụ gần gũi khoa học vật lý hiện đại hơn cả!

Trong những bài thơ Thiền Phật giáo về Nhân sinh tôi thích bài thơ này nhất!

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,    Thân như bóng chớp có rồi không,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.    Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,         Mặc cuộc thạnh suy không sợ hãi,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.      Thạnh suy như cỏ hạt sương đông.

示弟子
身如電影有還無,
萬木春榮秋又枯。
任運盛衰無怖畏,
盛衰如露草頭鋪

Bài thơ tương truyền của Thiền sư Vạn Hạnh (không rõ năm sinh – tịch năm 1018 gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông học thông tam giáo (Nho – Phật – Đạo), từng giúp vua Lê Đại Hành chống ngoại xâm, dựng xây đất nước, sau lại khuông phò Lý Công Uẩn lên ngôi nên rất được kính trọng

Nó tương tự như bài trong Kinh Kim Cang:

一切有为法   Nhất thiết hữu vi pháp,              Tất cả pháp hữu vi

如梦幻泡影   Như mộng, huyễn, bào, ảnh,      Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

如露亦如电   Như lộ, diệc như điện,                 Như sương, như chớp loé,

应作如是观   Ưng tác như thị quán.                  Hãy xem xét như thế.

Nội dung bài thơ ai cũng có thể hiểu cuộc sống ta như tích tắc chẳng lo chi thay đổi thịnh suy vì tất cả có rồi không.

Nhưng cái thâm sâu bài thơ là tổng hợp cơ bản triết học Phật giáo mọi người sẽ cảm thụ khác nhau.Thân như chớp bóng có rồi không.Thân Tâm do Ngũ uẩn cấu thành :Sắc Thọ Tưởng Hành Thức. Cuộc sống là một chuỗi hiện tượng Thân Tâm,không có cái gì thuộc về ta dù ta là giả hợp của Ngũ uẩn, nhưng nếu không có ta ai sẽ cảm thụ bài thơ trên,ai sẽ hiểu Ngũ uẩn?Ta là Hữu nhưng sẽ là Vô sau khi lìa trần,không còn chi nữa cả, nên ba câu sau khuyên đó là quy luật cuộc sống, tuần hòan vũ trụ không ngưng nghỉ,đừng lo gì cả như hạt sương đọng trên cỏ,có đó rồi bốc hơi trong tích tắc.

Nói vậy nhưng không phải vậy!Sống, đều bon chen mưu Danh Lợi Quyền dù  một cá thể chỉ tồn tại thực sự mấy chục năm nhưng vẫn lao vào ba cái ấy, nếu ai cũng như các thiền sư sẽ không có cuộc sống Thiện Ác lẫn lộn, muôn hình muôn vẻ như hiện nay…Chiến tranh,Khủng bố, Độc tài,Tham nhũng,bắt bớ tù đầy…tàn phá đất nuớc, sống chết mặc bây “tiền thầy bỏ túi”…khi bế tắc, chán nản hay thất bại con người đem Triết học và thơ Thiền an ủi…và Vũ trụ vẫn đang nở rộng các thiên thể và thiên hà đang rời xa nhau một cách bí ẩn bởi một lực vô hình nào đó.

Thiện Ác không biết cái nào nhiều hơn nhưng các Triết gia và Tôn giáo khuyên trong cuộc sống ta cố gắng giảm thiểu Ác bằng cách tin có ngày Phán xử,Thiên đàng,Địa ngục, Luân hồi, Nghiệp chướng…hành vi kiếp này ảnh hưởng kiếp sau để sống lương thiện…còn không tin cuộc đời vẫn sẽ là nhiều ẩn số.Chưa kể Tà cho đủ bộ ba vì con người có lúc Thiện lúc Ác – Thiện – Ác -Tà(The Good,The Bad and the Ugly).

Thông thường bộ não chúng ta nhận thấy cuộc đời như dòng chảy một chiều, trở về quá khứ hay tương lai chỉ là truyện khoa học viễn tưởng hay chỉ nằm trong lý thuyết vật lý nó chỉ được chứng minh bằng tóan học và xuất hiện trong điện ảnh, chưa thấy ai bất tử hay người trong quá khứ và tương lai trở về hiện tại.

Trong y học thị giác nhận hình ảnh thế giới ngược in trong võng mạc và dẫn truyền qua thần kinh thị và xử lý tại thùy chẩm để có hình ảnh ba chiều ta đã thấy,như vậy thế giới đã được xử lý theo chủ quan chứ ta không nhìn thế giới trực tiếp như máy ảnh, nên có những chứng bệnh mù màu hay nhìn thế giới thấy hình ảnh khác thường dị dạng… hay bệnh Hoang tưởng các giác quan, bệnh  Đa nhân cách y sống với nhiều vai mà “ngũ uẩn” khác nhau như “thần tiên,ma quái”…

Phải chăng nhận thức con người đối với thế giới là chủ quan,cái mà ta đang sống và chứng kiến chỉ là phản chiếu vào bộ não con người tối đa chỉ 100 năm và cùng thấy như nhau là do cộng nghiệp.Tất cả là ảo ảnh do Ngũ uẩn!

Thật là khó hiểu về những học thuyết, nhưng Vật lý học hiện đại cùng Phật giáo đồng quan điểm Thuyết Duyên khởi,vũ trụ này theo Lý thuyết dây(String theory) là cấu tạo từ những hạt phát ra từ những dây như dây đàn,cái này sinh ra cái kia và vũ trụ sẽ có nhiều chiều.Ta đang sống trong thế giới ba chiều không gian và một chiều thời gian theo Thuyết Tương đối của Einstein,tuân theo quy luật Nhân Qủa trùng trùng điệp điệp các hạt tạo ra thế giới vật chất và tinh thần mà Ngũ uẩn nhận thức trở lại .Không thể xác định một hạt điện tử vừa vận tốc vừa tọa độ theo nguyên lý bất định Heisenberg, có nghĩa Vật lý học đã chứng minh thế giới xây dựng từ các hạt là ảo vì nó có hai mặt vừa sóng vừa hạt, không thể xác định nó(vô),chỉ biết có nó(hữu) .Thế giới chỉ có thực khi ta là người quan sát!

Cõi Niết bàn,Tam Thiên Đại Thiên… và hằng hà sa số thế giới trong một vũ trụ ba chiều đã là con số kinh khủng nay là Thuyết Đa vũ trụ với thế giới nhiều chiều và theo tính tóan con số mũ(lũy thừa) khỏang 500 cho số lượng vũ trụ thì các phương trình và hằng số vũ trụ ta đang sống mới phù hợp với Thuyết Big Bang,Vũ trụ nở rộng, các vật chất tối,lỗ trắng,lỗ đen…và Lý thuyết dây tham vọng thống nhất cả vật lý vĩ mô của các Thiên thể lẫn thế giới vi mô của các hạt cơ bản,hạt Higgs, boson,electron…nguyên tử và sự sinh diệt trong không gian bốn chiều không bao giờ chấm dứt và quan trọng là là sự vận động đó để lòai người trí tuệ xuất hiện, tự chiêm nghiệm để hiểu biết sự kỳ vĩ của Tạo hóa!

Descartes: “Tôi tư duy,tôi tồn tại”.Cái Ta được khẳng định khi tư duy, cái Ta là “cây sậy yếu ớt nhưng biết suy nghĩ(Pascal)! Nhưng cái Ta theo Phật giáo không có thực nhưng nó vẫn có trong thế giới Ngũ uẩn, ba chiều và một chiều thời gian mà thôi!

Những lý thuyết ấy xa xôi và mơ hồ lắm không? Biết nó làm gì cho mệt não? Không! Nó càng giúp cho ta cho ta phải quý Hiện tại hơn,dù chỉ là một “sát na”.Không lãng phí thời gian có được!Hạnh phúc là những tình cảm tốt đẹp bên cạnh người yêu thương. Đừng để khỏanh khắc ấy mất đi!Tình yêu-Cô đơn,Hạnh Phúc-Khổ đau,Thiện-Ác,Chiến tranh-Hòa bình … sẽ đến không thể tránh khỏi vì nó luôn song hành trong vũ trụ này và…nó chỉ chấm dứt khi ta thanh thản ra đi hay chọn con đường tu tập thành Phật(Ta là Phật đã thành,các ngươi là Phật sẽ thành) rồi vào cõi Niết bàn,trong chiều không gian khác không có Luân hồi..Ngũ uẩn…Tứ diệu đế, rối rắm,phức tạp v.v…để thóat khỏi vòng Sinh Tử.

Thi sĩ Bùi Giáng chọn: “Ta yêu mến trần gian này mãi mãi,vì nơi đây ta có cả vui buồn”.

Bạn chọn cái gì?Tôi sẽ chọn một tiệc sinh nhật nhỏ trong Hạnh phúc lớn ngày hôm nay 5 tháng 7.2017!

lequangmd@yahoo.com.vn

Chú thích:

(1)Thuyết Đia tâm:Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và Mặt trời cùng các thiên thể khác quay quanh nó.Hệ này được coi là hình mẫu tiêu chuẩn thời Hy Lạp cổ đại, được cả Aristotle và Ptolemy, còn gọi Hệ Ptolemy, được nhà thiên văn học Hy Lạp(hay còn gọi là Ptolemy) đưa ra vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên và được đa số các nhà triết học Hy Lạp công nhận  và  Thuyết này cũng đã xuất hiện ở thời Trung Quốc cổ đại. Ngòai ra còn có hệ Tycho của Tycho Brahe trong đó Trái Đất vẫn nằm ở trung tâm vũ trụ và Mặt trời quay quanh nó, nhưng toàn bộ các hành tinh khác quay quanh Mặt trời theo rất nhiều hệ ngoại luân.

(2) Thuyết nhật tâm: Mặt Trời nằm ở trung tâm các thiên thể trong đó có Trái đất quay quanh nó. đối lập với thuyết Địa tâm và đến thế kỷ 16 và 17, thuyết này được Nicolaus Copernicus,(nguời Ba lan 1473-1543) khởi xướng, Galileo Galilei (người Ý 1564-1642)và Kepler (người Đức 1571-1630),Giordano Bruno(người Ý 1548-1600)… đưa ra và ủng hộ, nó trở thành trung tâm của một cuộc tranh cãi lớn cho đến khi thiên văn hiện đại ra đời.Vì ủng hộ thuyết này Galileo bị giáo hội Lamã xem như dị giáo và khi ra tòa ông có câu nói nổi tiếng “Dù sao trái đất vẫn quay”, còn Bruno bị đưa lên gìan hỏa thiêu và từ chối ân xá để bảo vệ quan điểm của mình

(3)Issac Newton: (người Anh 1642-1727): phát kiến Định luật vạn vật hấp dẫn và xem như Vũ trụ tuyệt đối.. Nhà thơ Alexander Pope đã viết:

Tự nhiên và luật tự nhiên lẩn khuất trong màn đêm phủ;

Chúa phán: Newton hãy xuất hiện! Và mọi thứ chói lòa.

(4)Albert Einstein (người Đức 1879-1955).Tác giả Thuyết tương đối và Vũ trụ tương đối.Cũng bài thơ Alexander Pope về Newton có giai thọai thêm hai câu:  Einstein xuất hiện! Mọi thứ đều tối tăm trở lại.

(5)Cơ học lượng tử được hình thành vào nửa đầu thế kỷ 20 do Max Planck, Albert Einstein, Niels Bohr, Werner Heisenberg, Erwin Schrödinger, Max Born, John von Neumann, Paul Dirac, Wolfgang Pauli và một số người khác tạo nên. Cơ học lượng tử là một lý thuyết cơ học, nghiên cứu về chuyển động và các đại lượng vật lý liên quan đến chuyển động như năng lượng và xung lượng, của các vật thể nhỏ bé, ở đó lưỡng tính sóng-hạt được thể hiện rõ

(6) Albert Einstein: Tôi không tin vào một vị Chúa nhân cách hóa và tôi không bao giờ phủ định điều này và tôi đã biểu thị điều đó một cách rõ ràng. Nếu có thứ gì đối với tôi được gọi là tôn giáo thì đó là sự thán phục vô tận dành cho cấu trúc thế giới mà khoa học của chúng ta có thể khám phá ra.

(7) Charles Robert Darwin (1809-1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh.Ông là tác giả nổi tiếng Thuyết Tiến hóa và Chọn lọc Tự nhiên

(8) Edwin Powell Hubble (20 tháng 11 năm 1889 – 28 tháng 9 năm 1953) là một nhà vật lý, nhà thiên văn học người Mỹ.

(9) Christian Andreas Doppler(1803 – 1853) là nhà toán học và vật lý học người Áo.Nguyên lý Doppler: tần số và bước sóng của các sóng âm, sóng điện từ hay các sóng nói chung bị thay đổi khi nguồn phát sóng chuyển động tương đối với người quan sát.Ứng dụng trong Thiên văn sẽ biết nó đang di chuyển hay đứng yên.

(10) Nguyên lý vị nhân (Anthropic Principle).Vũ trụ chúng ta đang sống tiến hóa có mục đích tạo ra những hằng số vũ trụ thích hợp cho lòai người xúât hiện

(11) Vũ trụ là một toàn ảnh (hologram): bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).Lý thuyết này dựa vào thực nghiệm các electron không hành xử như những thực thể riêng lẻ mà như thành phần của một hệ thống nhất liên thông, Nguyên lý toàn ảnh có thể dẫn đến một triết học sâu sắc. David Bohm quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh

(12) Câu kệ cuối cùng trong Kinh Kim Cang hay Kim cương bát nhã tâm kinh, Bộ kinh này bao gồm một cuộc đàm luận giữa Phật và tôn giả Tu-bồ-đề, bản dịch tiếng Anh là Diamond Sutra. Nguyên nghĩa tên Phạn là “Bài kinh về một loại Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sắc bén) có khả năng cắt đứt cả kim cương”.

(13) Ngũ uẩn: theo triết học Phật giáo  tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm.

Sắc uẩn chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý)

Thọ uẩn tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

Tưởng uẩn là nhóm tế bào não hoạt động khi ngủ là chủ yếu, nó hoạt động tạo nên cái biết trong mơ và sự hình dung, tưởng tượng.

Hành uẩn bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác.

Thức uẩn là nhóm tế bào não nằm yên cho đến khi tu tập bỏ hết dục lạc và ác pháp, khi đánh thức sẽ hiểu biết xuyên không gian và thời gian; quá khứ, hiện tại và tương lai. Thức uẩn hoạt động là coi như tu xong, có thể nhập Niết bàn.

(14)Thí dụ bệnh Dysmetropsia, người mắc hội chứng này thường bị đau nửa đầu và cảm nhận về không gian và thời gian bị bóp méo. Hội chứng Alice ở xứ sở thần tiên (AIWS – Alice in wonderland syndrome) được xác định và đặt tên vào năm 1955 bởi bác sĩ tâm thần người Anh – John Todd là một trong số bệnh đó.

(15)Thuyết Duyên khởi: Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác

(16)Lý thuyết dây(String theory)

(17)Nguyên lý bất định là một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử, do nhà Vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg(1901-1976) phát hiện.

(18)Thuyết Đa vũ trụ(MultiUniverse Theory

(19) René Descartes (1596–1650) là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp

(20) Blaise Pascal (1623 –1662) là nhà toán học, vật lý, nhà phát minh, triết gia người Pháp

(21) Sát na là thuật ngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ đơn vị ngắn nhất của thời gian; là thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi.Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s